LIÊN KẾT

Nguyên nhân do sinh viên thường thức đêm quá nhiều, ngồi máy tính quá lâu, lười tập thể dục thể thao và chế độ dinh dưỡng không hợp lý nên tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường ở các bạn trẻ hiện nay khá cao và ngày phổ biến
Các món ăn nhiều mỡ và thừa chất dinh dưỡng bây giờ đang dần được loại bỏ trong bữa ăn thay vào đó là các món cơm chay vẫn đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng lại tránh nhiều bệnh tật
Dịch vụ thay màn hình laptop giá ưu đãi cho học sinh và sinh viên

Nhóm nghiên cứu khoa học - yếu tố quyết định tới chất lượng của hoạt động khoa học-công nghệ và đào tạo sau đại học

Lưu ý, mở trong một cửa sổ mới. PDF.InEmail

BBT: Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh là một trong những chủ trương lớn của ĐHQG-HCM. Tại các hội nghị, hội thảo do ĐHQH-HCM và các đơn vị thành viên tổ chức thời gian qua, các nhà khoa học và quản lý đều quan tâm đến kinh nghiệm xây dựng nhóm nghiên cứu đẳng cấp quốc tế trong điều kiện Việt Nam. GS.TSKH Trương Quang Học, nguyên Trưởng Ban KH&CN Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ với chúng ta những kinh nghiệm này qua bài viết “Nhóm nghiên cứu khoa học -  yếu tố quyết định tới chất lượng của hoạt động khoa học-công nghệ và đào tạo sau đại học”

 

Nhóm nghiên cứu khoa học -  yếu tố quyết định tới chất lượng

của hoạt động khoa học-công nghệ và đào tạo sau đại học

(Nhân dịp GS. Phan Nguyên Hồng nhận Giải thưởng Quốc tế Cosmos)

 

Trương Quang Học

Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES)

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI (ĐHQGHN)

Đắt vấn đề

Đầu năm 2008, ĐHQGHN có tổ chức một dự án nhỏ nhưng với một mục tiêu lớn “Để xuất giải pháp để Việt Nam có được các giải thưởng quốc tế lớn về khoa học-công nghệ” do GS.TSKH. Vũ Minh Giang, Phó Giám đốc ĐHQGHN chủ trì và tôi được phân công một nhánh “…trong lĩnh vực môi trường và phát triển bền vững”

Để thực hiện nhiệm vụ, tôi đã chọn để phân tích một số trường hợp điển hình: Những giải thưởng quốc tế tiêu biểu như Giải thương Nobel Hòa bình (Nobel Prize), Giải thưởng Hành tinh xanh (The Blue Planet Prize) và những người được giải thưởng mà tôi được biết (Ông Al Gore, Giải thưởng Nobel Hòa bình, 2007, GS. Võ Quý,  Dr. Gene E. Likens và  Dr. F. Herbert Bormann, Giải thưởng Hành tinh xanh, 2003…). Tập thể của GS. Phan Nguyên Hồng là một điển hình tôi tập trung phân tích nhiều nhất nhưng mới chỉ có được những giải thưởng quốc gia. Để nhất quán tôi ghi là “GS. Phan nguyên Hồng – người được các giải thưởng quốc gia và xứng đáng được nhận giải thưởng quốc tế”.

Bản thảo số 1 của Báo cáo Dự án nhánh của tôi được nộp vào tháng 5.2008 (theo quy định) và rất bất ngờ là khi hoàn thiện Báo cáo cuối cùng vào cuối tháng 7 thì tôi nhận được thông báo GS.Phan Nguyên Hồng đã được Ủy ban giải thưởng Cosmos quốc tế chọn là người đoạt giải năm 2008 - giải thưởng lần thứ 16 của Ủy ban và là lần đầu tiên cho một người Việt Nam.

Đây là niềm vui, niềm tự hào chung cho giới khoa học Việt Nam, nhưng riêng tôi còn có một điều vui khác nữa là điều mình tin tưởng đã thành sự thật và tôi đã có thể hoàn thiện Báo cáo với kết luận rất khách quan và rõ ràng cho những phân tích của mình trên một ví dụ sống động của Việt Nam về các giải pháp để có được các giải thưởng quốc tế lớn.

Bài viết này, muốn được chia xẻ hai điều mà tác giả tâm đắc nhất trong Báo cáo: i) Đại học nghiên cứu và  ii) Tập thể nghiên cứu khoa học - tế bào của ĐHNC và của hệ thống nghiên cứu nói chung.

Hai Giáo sư của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) được giải thưởng quốc tế lớn

Giáo sư Võ Quý, người được Giải thưởng Quốc tế Hành tinh xanh (The Blue Planet Prize, 2003) và GS. Phan Nguyên Hồng, người được giải thưởng  Quốc tế Cosmos (The Cosmos Prize, 2008) đều là các GS. làm việc tại CRES, ĐHQGHN.

Những đóng góp có ý nghĩa cho khoa học và đời sống. Các công trình khoa học được giải thưởng quốc tế trước hết phải là các công trình khoa học tiêu biểu nhất tại thời điểm đó, có ý nghĩa chiến lược và đóng góp thiết thực cho thực tiễn phát triển của xã hội ở phạm vi quốc gia và/ hay quốc tế.

Khi xét chọn Giải thưởng Hành tinh xanh, Ủy ban Giải thưởng đã xem xét hết sức thận trọng 138 nhà khoa học của 135 nước trên thế giới được đề xuất và cuối cùng chọn được 3 người: GS. Võ Quý được một giải và hai Giáo sư Hoa Kỳ Dr. Gene E. Likens, Dr. F. Herbert Bormann được chung một giải.

Giải thưởng Comos cũng tương tự như vậy, GS Phan Nguyên Hồng đã được Ủy ban Giải thưởng quyết định trao giải sau 4 lần họp xem xét 131 người của 25 nước được đề cử. (Trước khi quyết định, Ủy ban và Ban thư ký đã trực tiếp sang làm việc tại Việt Nam với Tập thể của GS Phan Nguyên Hồng và trên thực địa).

Trong quá trình hoạt động khoa học, GS Võ Quý và GS Phan Nguyên Hồng có nhiều nét chung giống nhau. Hai GS đều là các nhà khoa học đầu ngành, bắt đầu giảng dạy đại học từ những ngày đầu sau hòa bình lập lại (1954), đều tập trung vào hướng Bảo vệ môi trường, Bảo tồn Đa dạng sinh học, hướng tới cộng đồng và người nghèo, đều có các Tập thể nghiên cứu khoa học tự xây dựng, tự hạch toán và đều có những đóng góp lớn cho đất nước và quốc tế.

GS. Võ Quý là người thành lập Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (Centre for Natural Resources and Environmental Studies – CRES) năm 1985 và nguyên là Giám đốc đầu tiên từ đó đến năm 1995. GS. Phan Nguyên Hồng là người thành lập Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn (Mangrove Ecosystems Research Centre – MERC) năm 1987 và liên tục là Giám đốc Trung tâm đến năm 1995 và là Phó Giám đốc CRES, Trưởng Ban  Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn (Mangrove Ecosystems Research Division - MERD) cho tới năm 2007. (Năm 1995, MERC và CRES nhập lại với tên chung là CRES khi Đại học Sư phạm Hà Nội là một đơn vị của ĐHQGHN, khi đó Trung tâm MERC chuyển thành Ban - MERD của CRES nhưng mọi họat động và tổ chức vẫn trên khung cũ).

Trung tâm hoàn toàn không có kinh phí bao cấp. Kinh phí hoạt động của Trung tâm chủ yếu dựa vào các đề tài, nhất là các đề tài hợp tác quốc tế mà các cán bộ của Trung tâm “xoay sở” được hoặc sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ. Trong điều kiện như vậy, những người đứng đầu không chỉ phải tổ chức các hoạt động chuyên môn tốt mà còn phải chăm lo cả về đời sông tinh thần và vật chất cho cả tập thể. Làm được điều này cần cả ba tiêu chí: Tâm (tâm đối với khoa học và với xã hội) và Tài (tài trong khoa học và tài tổ chức) và sự cố gắng liên tục, bền bỉ, lâu dài.

Hai GS đều theo đuổi một hướng nghiên cứu rõ ràng và lãnh đạo tập thể của Trung tâm quyết tâm  thực hiện. Hướng nghiên cứu của GS. Võ Quý là Bảo tồn Đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng, còn GS Phan Nguyên Hồng là nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn “kết hợp với đào tạo sau đại học để góp phần giúp đỡ các địa phương phục hồi, bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên, góp phần nâng cao cuộc sống của người dân nghèo ven biển”. Các hướng nghiên cứu này và cách tiếp cận đề giải quyết vấn đề (dựa vào công đồng) đều là các lĩnh vực, cách tiếp cận ngày càng được cộng đồng quốc tế quan tâm và đầu tư. Điều được đánh giá cao nhất là các GS đã hiện thực hóa được các ý tưởng quốc tế vào Việt Nam và các ý tưởng quốc gia vào từng hoàn cảnh cụ thể, góp phần nâng cao đời sống, ý thức và hành vi về bảo vệ môi trường của cộng đồng địa phương nơi nghiên cứu.

Những điều kiện để các GS có được các kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) nêu trên có thể có nhiều, trước hết là về trí tuệ, kiến thức, lòng say mê với sự nghiệp khoa học và phục vụ đất nước, có hoạt động quốc tế sâu rộng v.v. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là có một tập thể khoa học, đồng tâm nhất trí với các thế hệ nối tiếp nhau bền bỉ theo một hướng nghiên cứu xác định.

GS Phan Nguyên Hồng theo đuối hướng nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn, một vấn đề càng ngày càng có tầm quan trọng trong khoa học và nhất là trong thực tiễn từ năm 1965. Hướng nghiên cứu này được Trung tâm liên tục phát triển từ khi mới thành lập đến nay. Thời gian đầu chỉ là điều tra cơ bản thành phần loài, phân bố; lúc đầu chỉ là thực vật, sau đến động vật và hiện nay cả vi sinh vật và cả hệ sinh thái: cấu trúc, chức năng, dịch vụ, các nguyên nhân tác động, rồi đến các giải pháp phục hồi, bảo tồn, phát triển, từ nâng cao nhận thức cho công đồng cho học sinh các trường phổ thông, các cấp chính quyền đến các giải pháp trồng lại và phục hồi HST rừng ngập mặn, đến các đề xuất để phát triển công đồng, xóa đói giảm nghèo, cho sự kiện toàn chính sách, chiến lược ở các cấp quốc gia, khu vực và quốc tế (nhất là trong mối đe dọa của biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay).

Điều quyết định và cũng là một thành công của GS. Phan Nguyên Hồng là GS. đã tổ chức được một tập thể NCKH để thực hiện. Trung tâm / Ban (từ năm 1995) gồm những cộng tác viên mà phần lớn là các học trò do chính GS đào tạo. Mọi hoạt động của Trung tâm đều rất rõ ràng và minh bạch, đặc biệt là về chuyên môn và tài chính...

Các đề tài, dự án khoa học ở Ban được quản lý chặt chẽ nhất là khâu thẩm định và nghiệm thu, đảm bảo chất lượng kể cả các đề tài do các cán bộ trẻ chủ trì. Có bạn trẻ nói với tôi, “sợ GS Hồng lắm, nhất là lúc bảo vệ đề cương và nghiệm thu đánh giá đề tài, luận án, đặc biệt là về phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và các số liệu gốc”. Tôi cười và nghĩ là các bạn thật may mắn được làm việc với một GS như vậy… Đây chính là có sở quan trọng nhất để tạo ra sự đồng thuận cao trong tập thể và điều quan trọng hơn là tạo ra những kết quả khoa học được kế thừa và ngày càng phát triển.

Các hoạt động chuyên môn của Trung tâm luôn được gắn bó trong sự hợp tác chặt chẽ với cộng đồng, với địa phương, theo phương châm dựa vào dân (dân biết, dân bàn, dân tham gia thực hiện), kết hợp với công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho họ.

Về thông tin, tư liệu, bên cạnh thư viện chuyên môn do mọi người cùng xây dựng, đóng góp (nhất là sau các chuyến công tác nước ngoài), Trung tâm còn có hệ thống lưu trự rất cẩn thận và hệ thống. Tất cả các số liệu khoa học, các báo cáo của các đề tài, dự án, luận văn, luận án đều được lưu trữ tại Ban, một nguồn vối quý giá cho tất cả mọi thành viên.

Các hoạt động R&D là kết quả quan trọng nhất của Trung tâm. Sau 20 năm hoạt động (1985-2005) cán bộ của CRES đã là Chủ nhiệm của 4 trong số 6 Chương trình Nhà nước về tài nguyên, môi trường và thiên tai, hơn 45 đề tài hợp tác quốc tế (28 với Hòa kỳ) và hàng trăm đề tài KHCN các cấp. Riêng MERD của GS. Hồng đã chủ trì  4 đề tài cấp nhà nước, 5 đề tài cấp bộ, 13 đề tài hợp tác quốc tế.

Hoạt động tổng kết và xuất bản cũng được đặc biệt chú ý. Trong 20 năm, MERD đã xuất bản 11 tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học quốc tế và quốc gia bằng tiếng Việt và tiếng Anh, 16 sách chuyên khảo tiếng Việt và tiếng Anh, đồng tác giả của 8 cuốn sách xuất bản ở nước ngoài và hàng trăm bài báo khoa học trên các tạp chí trong nước và quốc tế. Nhờ vậy, vị thế của Trung tâm, của Ban ngày càng được nâng cao trên quốc tế và được nhiều các tổ chức quốc tế cộng tác, hỗ trợ về chuyên môn, đào tạo cũng như tài chính.

Bên cạnh những thành tựu về NCKH, hoạt động xây dựng năng lực của Trung tâm cũng có những kết quả ấn tượng. Từ những kết quả nghiên cứu chung, trong 20 năm hoạt động, CRES đã đào tạo 16 TS và 22 Ths cho chính các cán bộ của Trung tâm (trong đó 26 người đào tạo ở nước ngoài: Hoa Kỳ, Hà Lan, Úc, Nhật Bản, Bỉ, New Zealand, Thai Lan, Canada, …). Điều đáng nói là phần lớn luận án TS và thạc sĩ ở nước ngòai đều lấy số liệu ở trong nước của chính các Nhóm NCKH.

Riêng MERD, trong 20 năm hoạt động (1987-2007), đã đào tạo 12 Tiến sĩ (8 do GS. Hồng hướng dẫn ), 34 Thạc sĩ và cử nhân Sinh học ở trong nước và đã gửi 14 TS và Ths đi đào tạo ở nước ngoài (Nhật Bản, Anh, Úc) và rất nhiều lượt người đi tập huấn ngắn hạn ở nước ngoài. Nhiều cán bộ của Trung tâm đã trưởng thành như PGS.TS. Nguyễn Hoàng Trí, Phó chủ tịch Hội đồng điều phối Quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển; PGS.TS. Ba, phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, PGS.TS. Mai sỹ Tuấn Chủ nhiêm Khoa Sinh học...

Điều này một lần nữa khẳng định hiệu quả kép về cả NCKH và đào tạo SĐH của các Tập thể nghiên cứu khoa học.

Một khía cạnh nữa không thuộc về chuyên môn những rất quan trọng cũng cần được nói tới là các sinh hoạt tập thể mà ở nước ngoài gọi là hoạt động xây dựng nhóm (team building activities). Các chuyến tham quan du lịch ở trong nước, và cả nước ngoài (hai năm gần đây là ở Trung Quốc, Thái Lan và Singapor) (theo phương châm nhà nước và dân cùng đóng góp) do Ban tổ chức và các sinh hoạt học thuật và xã hội khác đã là một nhân tố quan trọng tăng cường hơn sự hiểu biết lẫn nhau, sự chia sẻ, gắn bó, và từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động (giá trị) của cả cá nhân và tổ chức.

Kinh nghiệm quốc tế

Ở nước ngoài, nhất là ở các nước phát triển, các Nhóm/ Tập thể nghiên cứu khoa học (scientific working group) là hình thức tổ chức phổ biến để tiến hành các hoạt động KHCN và đào tạo SĐH. Xin lấy một số ví dụ ở những nơi tôi đã từng được học tập và làm việc.

Trường Đại học tổng hợp Mátscơva mang tên Lômônôxốp, có hệ thống tổ chức  điển hình cho một ĐH hiện đại: Trường, rồi đến Khoa, dưới Khoa là các Bộ môn và trong Bộ môn là các Nhóm nghiên cứu. Bộ môn Côn trùng, ĐHTH Lômônôxốp (nơi tôi làm NCS, 1970-1974) là một Trường phái lớn của Thế giới về Phỏng sinh học (Bionics) với ba Tập thể nghiên cứu khoa học mạnh do ba giáo sư chủ trì, nghiên cứu về cơ chế  Thị giác, Thính giác và Cơ quan cảm giác hóa học của côn trùng. Ngoài các Tập thể như vậy trong mỗi Bộ môn, trong Trường còn có các Tập thể nghiên cứu khoa học liên bộ môn, liên khoa, các Viện và Trung tâm, tạo nên Hệ thống NCKH rất vững mạnh của Trường.

Các Chương trình Hợp tác giữa các trường ĐH Hà Lan và Việt Nam, từ sau những năm ‘75 đến những năm ‘90 (Chương trình VH) đã giúp đỡ rất nhiều các Trường ĐH Việt Nam phát triển, trong đó có Trường Đại học Tổng hợp trước đây. Các Chương trình này đã được tổ chức dưới hình thức các Nhóm nghiên cứu khoa học. Mỗi nhóm theo một chủ đề chuyên môn được lựa chọn (thường là các vấn đề hiện đại) và bao gồm các cán bộ của Việt Nam và Hà Lan cùng tham gia. Nội dung hợp tác bao gồm các chương trình trao đổi và đào tạo cán bộ, cung cấp trang thiết bị và nghiên cứu khoa học. Hiệu quả của Chương trình là rất to lớn, nhất là trong hoạt động xây dựng năng lực (đào tạo nhân lực và cung cấp trang thiết bị). Một số Nhóm nghiên cứu đã hình thành và phát triển tốt cho tới ngày nay (Nhóm Vật lý Nhiệt độ thấp của Khoa Vật lý là tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu Vật liệu của Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN, Viện ITEM…). Tuy nhiên, một số nhóm đã không còn duy trì được khi Chương trình kết thúc do nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ do chưa phù hợp với điều kiện Việt Nam lúc đó (nhưng đây cũng là các bài học quý đối với chúng ta về cách xây dựng Nhóm NCKH). Các trường ĐH Hà Lan thời ấy cũng được tổ chức theo các đơn vị nghiên cứu – các Viện Nghiên cứu với các Nhóm nghiên cứu – nơi tiến hành các hoạt động NCKH và đào tạo SĐH. Các cán bộ của Viện tham gia giảng dạy với sự điều hành của Khoa theo các chương trình đào tạo chung. Như vậy điều hành các hoạt động đào tạo chỉ do Bộ phận Quản lý chương trình và giáo vụ mà không có cán bộ giảng dạy cơ hữu (emty office), còn lực lượng NCKH và tham gia đào tạo là hệ thông các Viện và Phòng thí nghiệm của Trường.

Trường ĐHTH Ruhr, Bochum, CHLB Đức, cũng có tổ chức tương tự: dưới Trường là các Khoa, dưới Khoa là các Viện, trong Viện là các Tập thể NCKH do các Giáo sư C4 (Full Prof.) lãnh đạo. Chương trình đào tạo chung do các Khoa quản lý, các môn học cơ bản và cơ sở của hệ đại học do Khoa quản lý, nhưng do các cán bộ đầu ngành của các Viện giảng dạy. Còn đào tạo SĐH thì gần như hoàn toàn ở Viện. Khi làm luận văn, luận án tốt nghiệp, sinh viên làm ở các Viện, thường là tham gia thực hiện các đề tài của GS.

Gần đây nhất (2005), tôi được tham gia Đoàn cán bộ của Quỹ Khoa học Tự nhiên, Bộ Khoa học và Công nghệ thăm Quỹ Khoa học (NSF) và một số trường ĐH của Hoa Kỳ do cố GS. Nguyễn Văn Đạo làm trưởng Đoàn. Một trong những ấn tựng sâu sắc nhất của chúng tôi là khi thăm và làm việc với GS. Laurence D. Etkin - chuyên gia đầu ngành cuả thế giới về Sinh học phân tử bệnh ung thư, Đại học Texac. Đây là một Tập thể NCKH điển hìnhchuyên về Sinh học phân tử. Khi ngồi ăn trưa với cả nhóm chúng tôi đã làm quen với hai thực tập sinh sau tiến sĩ đến từ Trung Quốc và Ba Lan, 6 nghiên cứu sinh đế từ Costa Rica, Hàn Quốc, Nhật Bản làm việc trong  3 PTN do GS phụ trách. Tất cả họ còn rất trẻ và đầy hoài bão, tâm huyết. .....

Theo GS Laurence, học bổng và hướng luận án của các xuất NCS hàng năm đã được Trung tâm xác định theo các dự án đã có của Trung tâm. Khi đươc nhận vào học tại Trung tâm, trong khoảng 6 tháng đầu các NCS lần lượt làm việc với các nhóm chuyên môn hẹp với hai mục tiêu:

-    Làm quen với tất cả các hoạt động chuyên môn khác nhau của hướng nghiên cứu,

-    Lựa chọn hướng chuyên môn thích hợp và quyết định đề tài Luận án.

Trong thời đại ngày nay, khi tính chất liên ngành, xuyên ngành được quán triệt không chỉ trong hoạt động KHCN, mà trong tất cả các hoạt động của xã hội đều phải làm việc trong sự hợp tác: Làm việc theo nhóm (Teamwork/ Tearm working), xây dựng nhóm làm việc (Tearm building), Văn hóa làm việc Nhóm. Triết lý làm việc theo Nhóm là hiệu ứng số đông (chứ không phải là số đông), là hiệu quả của sự kế thừa và lũy tiến. Nếu nhóm người  hợp tác để làm việc cùng nhau thì hiệu quả chung sẽ tăng lên rất nhiều (synergy) so với làm việc theo mục tiêu của từng cá nhân và sẽ được lũy tiến theo thời gian. Vì khi đó, thế mạnh của từng người sẽ được phát huy tối đa theo sự cộng hưởng lẫn nhau, còn điểm yếu thì lại được bù đắp.

Những bài học từ các giải thưởng

Khi phân tích các yếu tố để có được các công trình khoa học lớn được giải quốc tế, và cụ thể là của hai GS Võ Quý và Phan Nguyên Hồng có thể bao gồm nhiều yếu tố, nhưng trong đó có một yếu tố quan trọng và cũng là nội dung được trao đổi ở đây là có một Tập thể nghiên cứu khoa học thực sự. Có thể khái quát một số tiêu chí của Tập thể đó như sau:

a. Có người đứng đầu, có trình độ khoa học, năng lực tổ chức và nhiệt huyết trong khoa học. Có lẽ đây là tiêu chí quan trọng nhất.

b. Có định hướng khoa học đúng, phù hợp với xu hướng quốc tế và phục vụ thiết thực cho sự phát triển của Việt Nam.

c Có điều kiện nghiên cứu phù hợp gồm trang thiết bị (và điều kiện để vận hành) và nguồn thông tin, tư liệu đầy đủ, cập nhật.

d. Tập hợp được đội ngũ cán bộ có nhiệt huyết và hoài bão khoa học, nhất là các cán bộ khoa học trẻ, các thực tập sinh sau tiến sĩ và nhất là NCS, học viên cao học, sinh viên làm khóa luận; Xây dựng và phát huy năng lực của tập thể, tạo sự đoàn kết, nhất trí cao trong mọi họat động.

e. Kiên trì theo đuôỉ hướng chuyên môn đã lựa chọn, quyết tâm vượt qua các khó khăn về điều kiện làm việc, thậm chí sức ép về mặt xã hội để đạt được mục tiêu khoa học của mình. Các kết quả khoa học được tích lũy, phát triển và được công bố rộng rãi trên các tạp chí trong nước và quốc tế.

e. Có quan hệ hợp tác tốt (hợp tác trong nội bộ, với các cơ quan ngoài và đặc biệt là hợp tác quốc tế);

Nguồn năng lượng của Tập thể NCKH là các đề tài, dự án. Vì vậy, khả năng tham gia tuyển chọn các loại đề tài KHCN theo hướng nghiên cứu vừa là chỉ tiêu đánh giá chất lượng vừa là một yếu tố quyết định tới khả năng phát triển của tập thể.

Kết luận và Khuyến nghị

1. Tập thể/ Nhóm NCKH là tế bào của cơ thể, là đơn vị cấu trúc & chức năng của bất kỳ hệ thống nào, cùng với cơ chế tổ hợp của chúng là yếu tố quyết định cho sự thành công của các hoạt động KHCN cũng như đào tạo SĐH của bất kỳ cơ quan, tổ chức cũng như quốc gia nói chung. Nó giống như các tế bào tạo nên mô, mô tạo nên cơ quan, hệ cơ quan, cơ thể, quần thể, quần xã các hệ sinh thái và cả thế giới sinh vật phong phú, đa dạng và hữu ích.

2. Từ hai trường hợp của GS. Phan Nguyên Hồng và GS. Võ Quý có thể khẳng định, các nhà khoa học Việt Nam, ngay trong điều kiện thực tế hiện nay vẫn có thể có được các công trình khoa học đạt trình độ cao, khu vực và quốc tế.

3. Ở tầm vĩ mô và lâu bền, để có được các Tập thể NCKH mạnh, đạt chuẩn quốc tế cần ba yếu tố:

- Nguồn nhân lực chất lượng cao,

- Các hoạt động KHCN được quản lý minh bạch và hiệu quả,

- Quản lý nguồn nhân lực hiệu quả - theo giá trị.

Nói cụ thể hơn cần:

a.  Có con người, những nhà khoa học có khả năng, trình độ và đặc biệt là sự say mê sáng tạo; Nói rộng hơn nữa là có nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này liên quan tới Hệ thống Giáo dục, Đào tạo. Trong điều kiện hiện nay, nguyên tắc chung để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là đào tạo qua nghiên cứu và cho nghiên cứu theo xu hướng hội nhập. Khuyến nghị:

- Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học trong hệ thống nhà trường (kể cả phổ thông);

- Xây dựng và đầu tư cho các đại học nghiên cứu (ĐHNC) để phát triển hệ thống nghiên cứu khoa học theo cơ chế Viện - Trường; Xây dựng nền văn hóa nghiên cứu trong các trường ĐH;

- Đổi mới tổ chức đào tạo SĐH và Sau Tiến sĩ (STS) theo phương châm: i) Luận án/ luận văn là một phần của các công trình nghiên cứu khoa học và ii). NCS và các thực tập sinh STS là lực lượng nghiên cứu khoa học chính trong các trường ĐHNC.

b. Có môi trường NCKH tốt, liên quan trước hết tới hệ thống quản lý - Quản lý nhà nước về các hoạt động KHCN: thể chế, chính sách, tổ chức và quản lý, thanh tra, kiểm tra, đầu tư...cho các hoạt động KHCN/ nghiên cứu khoa học trong hệ thống từ cấp quốc gia tới cấp cơ quan quản lý, và cuối cùng tới các tập thể khoa học của các nhà khoa học. Họat động KHCN phải được tiến hành theo cách tiếp cận “Suy nghĩ toàn cầu, hành động địa phương”, trong sự cân nhắc một cách phù hợp với bối cảnh quốc tế, quốc gia và địa phương, đơn vị. Khuyến nghị:

- Xây dựng Chiến lược KHCN quốc gia, ngành, các kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm để thực hiện Chiến lược

- Kiện toàn công tác quản lý nhà nước, qui trình xây dựng và quản lý các chương trình, đề tài, dự án KHCN, đặc biệt là khâu đề xuất nhiêm vụ;

- Trong hoạt động KHCN, chú ý đồng thời tới sản phẩm KHCN và tăng cường năng lực của các tổ chức KHCN (nhằm đảm bảo tính kế thừa, phát triển và bền vững của các kết quả họat động).

b.  Có cơ chế quản lý nguồn nhân lực hiệu quả; Phát huy tối đa tính chủ động sáng tạo, cơ chế hợp tác, phối hợp của các tổ chức KHCN cũng như bản thân các nhà khoa học.  Khuyến nghị:

- Xây dựng và phát triển các Tập thể NCKH (Scientific Working Group) mạnh, và bước cao hơn là các Trung tâm tuyệt hảo (Centre of excellence) hay các Trường phái khoa học;

- Xây dựng cơ chế vận hành và phối hợp trong nghiên cứu và triển khai theo nguyên tắc “Cây tre trăm đốt”.

c.   Phát triển quan hệ hợp tác, nhất là hợp tác quốc tế.

Bao trùm lên tất cả là một hệ thống thể chế, chính sách phù hợp và đồng bộ.

Nguồn: http://www.vnuhcm.edu.vn/tintuc593.php